Affichage des articles dont le libellé est hoá dược. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est hoá dược. Afficher tous les articles

dimanche 3 avril 2011

Tìm ra cơ hội mới từ những phân tử lâu đời


Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu làm sao Novasep có thể giúp Provepharm nhanh chóng mở rộng quy mô và làm cho một dược chất trở nên tốt hơn so với dạng truyền thống của nó.



Được biết đến từ 135 năm nay với vai trò là một thuốc nhuộm vi sinh và chỉ thị màu trong hóa học, hợp chất dị vòng mang tên xanh methylen còn được dùng làm thuốc nhuộm trong công nghiệp dệt, ngoài ra nó còn được chỉ định làm thuốc chống sốt rét. Ngày nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu tìm hiểu những khả năng khác của nó như kháng ung thư, trị bệnh Alzheimer hay các bệnh do nhiễm virus. Xanh methylen hiện giờ vẫn được các bác sĩ dùng trong những bệnh lý nhiễm trùng đường tiểu, cũng như làm chất nhuộm màu cho mô trong một số kỹ thuật hình ảnh y khoa. Nó thậm chí còn được dùng để kháng nấm trong các qui trình bảo quản.

Đáng chú ý nhất, xanh methylene, còn gọi là clorua methylthioninium, là phương thuốc duy nhất có bằng chứng trên lâm sàng và trong các y văn về khả năng chữa căn bệnh hiểm nghèo “met-hemoglobine”, theo Cơ quan thuốc Châu Âu. Đây là bệnh gặp phải do ngộ độc một số thuốc hay thức ăn, dẫn đến nồng độ met-hemoglobin (dạng ôxi hóa của hemoglobin) tăng cao trong máu và làm mất khả năng chuyên chở oxi của hồng cầu. Để trị bệnh này, xanh methylen là chất giải độc có thể chuyển đổi được met-hemoglobin trở thành dạng ban đầu là hemoglobin.


Tuy nhiên, xanh methylen hiện nay được sử dụng thích hợp trong ngành hóa nhuộm hơn là một nguyên liệu dược phẩm. Quả vậy, việc điều chế ra xanh methylen tinh khiết chất lượng cao là khá khó khăn. Nhưng vì các liệu pháp chữa trị thay thế còn hạn chế, nên các tiêu chuẩn dược điển Âu Mỹ hiện hành áp dụng cho hoạt chất này vẫn chấp nhận tồn tại hàm lượng tạp lớn trong nguyên liệu, trong đó bao gồm cả những kim loại nặng có hại đến sức khỏe con người.

Tin rằng sẽ có giải pháp tốt hơn thế, một công ty nhỏ mới thành lập của Pháp, Provepharm, đã gần như thành công trong việc sản xuất ra xanh methylen có chất lượng tinh khiết để phục vụ cho ngành dược phẩm. Được sản xuất từ sự hợp tác với Novasep, công ty chuyên sản xuất dược phẩm theo hợp đồng có trụ sở tại Chasse-sur-Rhône, Pháp, chế phẩm “Proveblue” đã ra đời và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn khắt khe của Good Manufacturing Practice (GMP), cũng như các quy định hiện hành trong ngành công nghiệp dược phẩm vê hàm lượng cặn kim loại và các tạp chất khác.

“Mục tiêu của chúng tôi là giới thiệu lại xanh methylen như là một nguyên liệu API hứa hẹn hơn cho ngành dược phẩm, nói cách khác là làm thay đổi một loại hóa chất nhuộm trở thành một dược chất”, giám đốc điều hành của Provepharm Michel Féraud đã giải thích như vậy. Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu đã từng cố gắng tạo ra một phiên bản xanh methylen tinh khiết hơn, nhưng đều gặp thất bại vì tính chất tạo phức quá mạnh của nó. Các phương pháp điều chế xanh methylen truyền thống có sử dụng nhiều hóa chất oxi hóa khử mang kim loại, dẫn đến việc thành phẩm còn chứa nhiều tạp chất, các tạp chất này lại rất khó bị loại bỏ bởi vì tính chất của chúng gần giống với chính sản phẩm tạo thành.

Vài năm trước, công ty mẹ của Provepharm, Provence Technologies, một công ty chuyên về R&D theo hợp đồng trụ sở đặt tại Marseille, đã quyết định thử sức mình trong việc tinh chế xanh methylen thuốc nhuộm bằng các vật liệu đang có sẵn trên thị trường. Nhưng nếu chỉ đơn thuần là làm sạch một hóa chất thì không đủ thuyết phục các cơ quan chức năng để xin được giấy phép cho một loại thuốc mới. Và nhà sản xuất do đó phải chứng minh được họ đã xác lập được một quy trình rõ ràng, được kiểm soát chặt chẽ với một dây chuyền phản ứng cô đọng dưới các điều kiện của GMP.

Trong quy trình của Provence Technologies, xanh methylen có độ tinh khiết thấp sẽ được bảo vệ hóa học để che đi bản chất phức tự nhiên của nó. Các tạp kim loại nhiễm vào sau đó được lọc ra bởi một hệ thống chuyên biệt. Cuối cùng các nhóm thế bảo vệ được loại bỏ bằng các phản ứng mà không cần dùng đến những tác nhân oxi hóa có chứa kim loại. Việc rửa và kết tinh hơn nữa được tiến hành để tiếp tục làm sạch loại bỏ các tạp chất hữu cơ.

Sau khi thành công trong việc nghiên cứu chuỗi phản ứng và bảo vệ quy trình bằng việc đăng kí sáng chế phát minh. Provence Technologies đã tách riêng Provepharm thành một công ty độc lập. Provepharm bắt đầu hoạt động vào năm 2008, mục tiêu của nó là tìm cách nâng cỡ lô sản xuất và thẩm định quy trình, chuẩn bị các tài liệu cần thiết để nộp hồ sơ lên cơ quan thuốc châu Âu xin đăng kí lưu hành một dạng xanh methylen chích để giải độc met-hemoglobin.

Đầu 2009, Provepharm đã lên kế hoạch cho dự án, lúc đó họ cần tìm kiếm một đối tác đáng tin cậy có thể giúp họ sản xuất nguyên liệu làm thuốc (API) đáp ứng đúng thời hạn của dự án. “Chúng tôi chỉ mới là một công ty start-up nhưng chúng tôi muốn tham gia thị trường nhanh nhất có thể”, Jeff Kaufman, giám đốc nghiên cứu phát triển của Provepharm cho biết. Và họ đã tìm đến Novasep.


Các nhà khoa học của Novasep đầu tiên phải làm quen với quy trình công nghệ của Provence Technologies, sau đó mới tìm cách nhân rộng quy mô sản xuất từ phòng thí nghiệm lên cỡ pilot.

Yêu cầu đó có vẻ như khá đơn giản, chỉ là mở rộng hơn các thao tác với các dụng cụ thủy tinh. Tuy nhiên, việc điều chế ra một phức chất hữu cơ trong môi trường hoàn toàn không có kim loại ở qui mô công nghiệp gặp rất nhiều thách thức. Và Novasep đã thành công, trong vòng 7 tháng, họ đã sản xuất được 1 lô thử nghiệm và 3 lô mẫu của Proveblue để đăng kí cho việc thẩm định quy trình.

Novasep ngoài ra còn giúp đỡ xây dựng một cơ sở dữ liệu chi tiết về sản phẩm, cũng như các hồ sơ cần thiết khác, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho việc xin giấy phép và marketing, phát hành sản phẩm ra thị trường. Không những thế, công ty còn phát triển một phương pháp kiểm nghiệm mới bởi vì những phương pháp hiện hành sẽ trở nên lạc hậu với các sản phẩm có chất lượng cao hơn.

Theo Babak Sayah, đồng phát minh của qui trình đã được cấp bằng sáng chế, Novasep đã cùng một lúc đáp ứng được nhiều nhu cầu. “Một mặt, quy trình của chúng tôi được thực hiện trong dung dịch loãng, mặt khác, chúng tôi cần một nhà sản xuất có kinh nghiệm không bị bối rối khi xử lý một sản phẩm màu xanh, vốn dĩ đã khá là hỗn độn”. Ông nói, “ngoài ra chúng tôi cũng cần một đối tác có khả năng hỗ trợ cho đội ngũ pháp lý của công ty một cách trọn gói, chứ không chỉ đơn thuần là một lời khẳng định họ có thể làm được. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả, là tốc độ công việc mà họ có thể thực hiện.”

Một tháng sau khi sản xuất được lô đầu tiên, cơ sở của Novasep đã vượt qua đợt kiểm tra của cơ quan quản lý Pháp. Trong năm 2010, các đối tác đã bắt đầu làm việc để thực hiện kế hoạch nâng cỡ lô lên quy mô thương mại.

Mới tháng trước, một ủy ban châu Âu đã đề nghị cho phép lưu hành dạng tiêm Proveblue cho liệu pháp điều trị met-hemoglobin. Công ty nhỏ này vừa đạt được thành công lớn khi được EU phê duyệt cho sản phẩm và sắp sửa được bán ra trên 27 quốc gia trong thời gian tới. Giấy phép lưu hành mới hứa hẹn một tiềm năng thương mại đáng kể cho loại thuốc này, bộ phận marketing và sale đang đưa ra dự báo về khoản doanh thu hàng năm lên đến 40 – 50 triệu đôla trong 5 năm. Nhà phát minh đang tìm kiếm những công ty phân phối thích hợp để phát triển sản phẩm trên nhiều thị trường khác nhau.

Provepharm hy vọng rằng giấy phép được phê duyệt này sẽ thu hút các nguồn đầu tư mới cho việc nghiên cứu xanh methylen làm thuốc. Về phần mình, công ty muốn nộp hồ sơ chấp thuận lên cơ quan quản lý của nhiều quốc gia khác, và tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho nhiều chỉ định điều trị mới. “Chúng tôi đang tiến gần đến một thỏa thuận, và đang xúc tiến nhiều cuộc thương thảo cho những hợp đồng rất tiềm năng”, theo lời của Kaufman, trong đó có cả những thị trường lớn như Mỹ và Nhật.

Vì xanh methylen là một dược chất đã được đăng kí bản quyền, nên quy trình đăng kí đối với EU sẽ giống như đăng kí sản xuất một loại thuốc generic. Đối với những quốc gia khác nơi mà xanh methylen chưa được đăng kí, việc xin phép cho Proveblue sẽ tương đối phức tạp hơn. Trong thời gian này, Provepharm đang có kế hoạch thương thảo xúc tiến đăng kí Proveblue lên cơ quan FDA của Hoa Kỳ.

Provepharm cho rằng công ty đã cung cấp cho thị trường một API với mức độ “chi phí trên hiệu quả” đã được cải thiện đáng kể. Hàm lượng kim loại trong Proveblue chỉ bằng 1-2% so với qui định trong các dược điển hiện hành. “chúng tôi có thể chứng minh được rằng độc tính của thuốc đã giảm đi rõ rệt một khi các tạp kim loại được loại bỏ”.

Ngoài việc nâng cao được độ tinh khiết của sản phẩm, nhà sản xuất cho rằng họ đã tăng giá trị của loại API này lên ít nhất 10 lần. Thực vậy, Proveblue có thể thiết lập một tiêu chuẩn mới cho xanh methylen, và buộc các phiên bản kém tinh khiết hơn phải rút khỏi thị trường. Điều này dường như đang xảy ra. Trong tháng 11/2010, bộ y tế Pháp đã rút giấy phép nhiều sản phẩm nhập khẩu vào Pháp và cho phép Proveblue được ưu tiên sử dụng dù số visa chưa được thông qua, theo luật “Compassionate use – các trường hợp sử dụng ưu tiên” của nước này.

Con đường phát triển qui trình, nghiên cứu nâng cỡ lô, thẩm định, sản xuất, chuẩn bị hồ sơ và xin giấy phép lưu hành đã được tiến hành trong thời gian chỉ mất 2 năm. Các đối tác thậm chí còn dự kiến sản xuất với số lượng lên đến hàng tấn. Cuối cùng, Novasep đang đầu tư nghiên cứu cho quy trình nâng cỡ lô của riêng họ, đánh dấu một bước mới trên con được nâng cao chất lượng của nguyên liệu làm thuốc xanh methylen.

theo C&EN

samedi 29 mai 2010

Câu chuyện về bằng sỡ hữu trí tuệ của một quy trình tổng hợp hóa dược

Kể từ khi khởi đầu vào năm 1996, Irix Pharmaceuticals đã giúp các khách hàng của họ giành được 34 bằng bảo hộ sáng chế, phần lớn liên quan đến các quy trình tổng hợp hóa học. Ví dụ như một thành công của họ sau đây: “U.S. patent number 7009049, awarded to Cytokinentics, a South San Francisco-based biotech firm”.

Irix được thành lập bởi J. Guy Steenrod và Panos Kalaritis, hai cựu giám đốc điều hành của Roche, với mục đích cung cấp các dịch vụ nghiên cứu R&D cỡ lớn hoặc các dịch vụ sản xuất theo quy mô công nghiệp cho các công ty dược phẩm mà không thể, hoặc không muốn mở rộng nguồn lực hoạt động của mình.

Một trong những nhân viên đầu tiên của họ là George Yiannikouros, với vai trò giám đốc chính về khoa học kĩ thuật. Yiannikouros là tiến sĩ của đại học New York City University, và có bằng postdoc thuộc ê kíp tổng hợp hóa học nổi tiếng của K. C. Nicolaou. Giống như Steenrod và Kalaritis, Yiannikouros cũng là cựu nhân viên của Roche, nơi mang lại cho ông sự nổi tiếng với việc đề ra quy trình mới tổng hợp thuốc loãng xương Rocaltrol, một sự thay đổi đã giúp tiết kiệm hàng triệu USD cho chi phí sản xuất hàng năm của hãng.

Trong những ngày đầu, Irix hoạt động tại một phòng thí nghiệm ở Florence, S.C., thuê lại từ trường đại học Francis Marion University. Năm 1998, công ty đã trở nên đủ lớn để tự xây nên một phòng thí nghiệm cho riêng mình tại Florence, và đến năm 2002, họ cùng các đối tác tiến hành mua một trung tâm bào chế dược phẩm hoàn toàn mới ở Greenville, S.C.

Khởi sự với khách hàng đầu tiên, thương vụ mà đã mang lại hai bằng sáng chế, Irix chọn hướng đi riêng cho mình theo hướng phát triển công nghệ, giúp tiết kiệm chi phí cho khách hàng đồng thời cũng thiết lập được những rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh. “chiến lược của chúng tôi là nhanh chóng giải quyết các vấn đề bằng việc sử dụng các kĩ thuật tiên tiến”, Yiannikouros cho biết. “Nó giúp chúng tôi trụ lại trong cuộc chơi, trong khi mọi người đang đổ xô đến Ấn Độ và Trung Quốc để tận dụng lợi thế nhân công rẻ.”

Nhà máy sản xuất dược phẩm của Irix tại Greenville, S.C.

Cytokinetics bắt đầu gõ cửa Irix vào khoảng giữa năm 2000, Yiannikouros nhớ lại. Nó được ví như một sự hợp tác thường gặp trong ngành công nghiệp sản xuất hóa dược, tương tự các khách hàng khác của Irix. Người đại diện cho Cytokinetics lúc đó là David J. Morgans Jr., hiện nay là phó chủ tịch điều hành của bộ phận R&D tiền lâm sàng. Sau cuộc gặp gỡ của ông ta với Steenrod và Kalaritis, Morgans tỏ ra rất ấn tượng với những hợp đồng lớn mà Irix đã thực hiện cũng như khả năng sản xuất các hợp chất gây độc tế bào của công ty này.

Là nhân viên mới của Cytokinetics, Morgans được giao ngay nhiệm vụ then chốt là tìm cách nào kiếm được vài kí lô gram hoạt chất chất lượng cao cho kế hoạch thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của công ty. Lúc đó, Cytokinetics là một công ty chỉ mới được thành lập khoảng một năm rưỡi. Được ủng hộ bởi các nhà đầu tư mạo hiểm, nó được lập ra nhằm mục đích thương mại hóa các phát minh tìm ra bởi những nhà khoa học từ Đại học Y khoa Stanford University và các khu campus của đại học California tại San Diego và San Francisco.

Các nhà khoa học của Cytokinetics đều là chuyên gia trong lĩnh vực cấu trúc khung tế bào (cytoskeleton): một bộ khung đa thành phần mà trong đó tế bào sắp đặt các cơ quan của nó. Họ ví bộ khung này như bản đồ của một thành phố, với các con đường cao tốc là những cấu trúc protein hình ống gọi là microtubule và xe cộ chính là những enzyme di động có chức năng chuyên chở các chất hóa học trong tế bào. Với ý niệm như vậy, các nhà khoa học đã có kế hoạch phát triển các loại phân tử thuốc có khả năng ức chế, hay kích hoạt một vài thành phần của bộ khung này nhằm mục đích trị liệu nhiều căn bệnh như suy tim, ung thư, hay hủy hoại cơ bắp (muscle wasting).

Cấu trúc xương tế bào

Hợp chất mà Morgans cần là một tác nhân chống ung thư có tên gọi ispinesib. Nó có tác dụng ức chế thoi vô sắc, một protein có vai trò quan trọng trong quá trình nguyên phân, và cũng là một chất ức chế đầu tiên loại này hứa hẹn có thể phát triển cho giai đoạn nghiên cứu lâm sàng, theo Cytokinetics. Dữ liệu thu được từ việc thử nghiệm trên thú vật cho thấy nó có thể ngăn cản sự hoạt động của protein phân bào này, và giúp tiêu diệt các tế bào ung thư đang phân chia mà không ảnh hưởng đến những tế bào lành khác.

Mặc dù protein thoi vô sắc là một mục tiêu mới của các nghiên cứu dược phẩm, ispinesib lại được khám phá nhờ vào kĩ thuật sàng lọc bởi thông tin từ các thư viện truyền thống có lưu lượng cao, kết hợp với các kỹ thuật hàng đầu về tối ưu hóa tổng hợp hóa dược.

Con đường đi đến kết quả, tuy nhiên, đã nảy sinh nhiều vấn đề. Như hầu hết các tổng hợp hóa dược khác, mục tiêu đặt ra là tốc độ và tính dễ dàng để sản xuất các hợp chất cùng loại. Chi phí và khả năng thương mại, là những điều chưa được xem xét đến.

Chuỗi tổng hợp bao gồm 11 bước phản ứng, Yiannikouros cho biết, và tổng hiệu suất của cả quy trình chỉ đạt 8%. Hơn nữa, nó còn gặp nhiều khó khăn khác mà có thể trở thành vấn đề không thể giải quyết khi sản xuất trên quy mô công nghiệp. Như các hoạt chất kháng ung thư khác, ispinesib là một chất độc cho tế bào, và chỉ có những công ty chuyên môn như Irix mới được trang bị dụng cụ xử lý chúng. Các đặc tính của một số tiền chất, cũng có thể tạo ra nhiều thách thức khó lường cho nhà sản xuất khi tiến hành nâng cỡ lô.

Một số vấn đề khác trong quá trình tổng hợp bao gồm nhu cầu cần có các chất phản ứng nguy hiểm như bromine hay các hợp chất azide, liên quan đến khả năng phân giải tách chiral ở đoạn cuối quy trình, một chuỗi bên kém bền và phải được sử dụng với số lượng nhỏ ngay trong quá trình chuẩn bị phản ứng.

Sử dụng các quy trình tổng hợp hóa dược, Irix đã điều chế ra được khoảng vài trăm gram ispinesib với nhà máy theo tiêu chuẩn GMP của FDA. Nhưng với những vấn đề còn tồn tại, cả hai bên đối tác đều hiểu rằng một cách tiếp cận mới là cần thiết. “Vì vậy, song song, Cytokinetics chấp thuận đề nghị của chúng tôi về việc tìm kiếm một con đường thay thế,” Yiannikouros kể lại.

Mặc dù là giám sát chính của hơn 100 khoa học gia và đội ngũ kỹ thuật, Yiannikouros lại là một nhà quản lý thực hành sát với nghĩa đen nhất. “Mỗi khi có một cơ hội với khách hàng về một hợp chất hay một quy trình mới, tôi lại bước vào phòng thí nghiệm và tự mình tiến hành các thao tác.” Ông nói, “đối với tôi, đó thật sự là một niềm đam mê”.

Tại đó, ông triệu tập một nhóm làm việc và bắt đầu suy nghĩ về phương pháp tổng hợp mới. Chìa khóa của vấn đề, là tìm cách tốt hơn để tạo ra trung tâm chiral của ispinesib. Các nhà hóa học đã đề xuất một phương pháp mà trong đó, trung tâm chiral được hình thành với một acid d-amino. Từ đó họ đã hoàn chỉnh con đường tổng hợp tiên tiến hơn, với các bước trung gian giai đoạn cuối giống với phương pháp hiện hành.


Khoảng thời gian đó cũng là lúc một đối tác thứ ba tham gia vào liên doanh. Tháng 6 năm 2001, Cytokinetics đã bắt đầu hợp tác với GlaxoSmithKline để phát minh và phát triển các thuốc phân tử nhỏ điều trị ung thư và nhiều bệnh khác bằng cách can thiệp vào quá trình gián phân. Cytokinetics đã được cấp một nguồn tài trợ trị giá hơn 50 triệu USD và có cơ hội làm việc với một trong những tập đoàn dược phẩm lớn nhất thế giới.

Đối với Irix, việc tham gia của GSK có nghĩa là công ty sẽ học hỏi được nhiều về quản lý chất lượng của tập đoàn này, cũng như quy trình mới sẽ được nghiên cứu kĩ lưỡng bởi đội ngũ chuyên gia của họ. GSK đã chấp thuận với một yêu cầu: phát triển một chuỗi bên mới nhằm loại bỏ vấn đề phát sinh từ các phản ứng trung gian trong chuỗi tổng hợp.

Cuối cùng, Irix đã cắt tỉa và rút gọn được quy trình hoàn chỉnh với chỉ 6 bước. Họ cũng thành công trong việc tránh khỏi các vấn đề phức tạp về độ phân giải sắc kí, các chất phản ứng nguy hiểm, và những điều phiền phức từ một vài phản ứng trung gian. Nhìn chung, hiệu suất đã được nâng lên 40%, không những thế, Yiannikouros còn cho biết chi phí của quy trình tổng hợp hóa dược đã giảm xuống nhiều lần.

Được trao tặng vào năm 2006, bằng sáng chế bao gồm cả việc sử dụng một acid amin để tạo thành trung tâm chiral của quinazolinone, khung cơ bản mà một trong những dẫn xuất của nó là ispinesib. Một bằng sáng chế quy trình như vậy không chỉ giúp bảo vệ những cải tiến về công nghệ, nó còn có thể ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và thậm chí có thể kéo dài được thời gian khai thác thuốc đó ngay cả khi quyền bảo hộ bằng sáng chế hết hạn.

Thật không may, để có thể phát triển thành công một thuốc ra thị trường, người ta cần nhiều thứ hơn là chỉ với các quy trình tổng hợp hóa dược. Tháng 12/2008, GSK thông báo rằng họ sẽ không tiếp tục đầu tư để đăng kí ispinesib nữa. Cho đến tháng 12, hai công ty đã chấm dứt hợp tác, và Cytokinetics đã dừng mọi nghiên cứu về lĩnh vực ung thư. Vào tháng 6, Cytokinetics có tiết lộ một số kết quả tạm thời từ Phase I/II của nghiên cứu lâm sàng đánh giá hiệu quả của ispinesib trên các bệnh nhân ung thư vú đã phát triển hoặc di căn. Công ty cho biết “các kết quả thu được là rất đáng khích lệ”, nhưng kể từ đó họ không tiết lộ gì hơn về tương lai của Ispinesib, có thể nghĩ rằng họ đang tìm một đối tác mới có thể giúp họ tiến hành các thử nghiệm lâm sàng tiếp theo cho hoạt chất kháng ung thư đầy hứa hẹn này.

Mặc dù không còn nỗ lực nghiên cứu về các khối u nữa. Cytokinetics vẫn đang phát triển các dược chất tác động vào bộ xương tế bào để trị bệnh rối loạn về cơ. Một trong những hoạt chất hứa hẹn, omecamtiv mecarbil trị suy tim, là đề tài mà họ đang hợp tác với Amgen. Cytokinetics cũng còn nhiều hợp chất tiềm năng khác để có thể phát triển.

Về phần mình, Irix tiếp tục là một phần của các nỗ lực trên cơ sở 10 năm hợp tác chặt chẽ. “Chúng tôi gọi cho họ như thường lệ để hỏi thăm chuyện gì đang diễn ra, và chúng tôi đến đó, làm việc với các nhà khoa học tại chỗ, trong phòng thí nghiệm cũng như trong các dây chuyền sản xuất”.
Sau nhiều năm trong ngành công nghiệp dược phẩm, Morgans đã học được một số bài học làm thế nào để thành công trong kinh doanh. Một trong số đó xuất phát từ quan hệ đối tác giữa Cytokinetics và Irix. "Xây dựng quan hệ giữa những người có trách nhiệm trong công việc", ông nói. "Mọi thứ sẽ được thực hiện, và nó sẽ được thực hiện theo cách tốt nhất."

pubs.acs.org