Affichage des articles dont le libellé est xếp hạng. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est xếp hạng. Afficher tous les articles

lundi 8 août 2011

Top 50 dược phẩm có nguồn gốc sinh học trên thế giới

Các chế phẩm sinh học là những sản phẩm được sản xuất từ cơ thể sống (nhờ quy trình công nghệ sinh học): nhiều loại protein tái tổ hợp, kháng thể đơn dòng, huyết thanh hay vaccin. Nói đơn giản : "Nếu loại thuốc này không phải là một phân tử nhỏ, thì nó chính là biopharma!""

Dưới đây là các loại dược phẩm công nghệ sinh học bán chạy nhất toàn cầu, theo ý kiến của Ronald A. Rader, chủ tịchViện thông tin công nghệ sinh học, nhà xuất bản tạp chí BIOPHARMA: Biopharmaceutical Products in the U.S. and European Markets (www.biopharma.com), nguồn thông tin tham khảo duy nhất trong lĩnh vực dược phẩm công nghệ sinh học này.

Trade Name

Description

Marketer

2010 Revenues

1. Enbrel

TNF Mab, rDNA

Amgen / Pfizer

$7,287

2. Avastin

VEGF Mab, rDNA

Roche

$6,973

3. Rituxan

CD20 Mab, rDNA

Roche / Biogen

$6,859

4. Remicade

TNF Mab, rDNA Mab, rDNA

Johnson & Johnson $6,520

5. Herceptin

HER2 receptor

Roche

$5,859

6. Humira

TNF Mab, rDNA

Abbott

$5,488

7. Lantus

Insulin glargine, rDNA

Sanofi

$4,834

8. Neulasta

G-CSF, rDNA, PEG

Amgen

$3,558

9. Lucentis

VEGF Mab Fab, rDNA

Roche

$3,106

10. Aranesp

EPO, darbo-, rDNA

Amgen

$2,995

11. Avonex

Interferon beta-1a, rDNA

Biogen Idec

$2,518

12. Prevnar-7

Pneumococcal Vaccine(7)-CRM197

Pfizer $2,400

13. Rebif

Interferon beta-1a, rDNA

Merck

$2,297

14. NovoLog

Insulin aspart, rDNA

Novo Nordisk

$2,198

15. Novolin

Insulin, rDNA

Novo Nordisk

$2,185

16. Advate

Factor VIII, rDNA

Baxter

$2,095

17. Humalog

Insulin lispro, rDNA

Lilly

$2,054

18. Procrit / Eprex

EPO, rDNA

Johnson & Johnson

$1,900

19. Erbitux

EGF receptor Mab, rDNA

Bristol-Myers Squibb

$1,791

20. Pegasys

Interferon alfa, rDNA, PEG

Roche

$1,775

21. Betaseron

Interferon betaser, rDNA

Bayer

$1,661

22. NovoSeven

Factor VIIa, rDNA

Novo Nordisk

$1,483

23. BOTOX

Botulinum Toxin A

Allegan

$1,414

24. NeoRecormon

EPO, rDNA

Roche

$1,387

25. Kogenate

FS Factor VIII, rDNA

Bayer

$1,383

26. Neupogen

G-CSF, rDNA

Amgen

$1,286

27. Levemir

Insulin detemir, rDNA

Novo Nordisk

$1,271

28. Engerix-B

Hepatitis B Vaccine, rDNA

GlaxoSmithKline

$1,200

29. Tysabri

Integrin Mab, rDNA

Biogen Idec / Elan

$1,089

30. Humulin

Insulin, rDNA

Lilly

$1,089

31. Synagis

RSV Mab, rDNA

MedImmune/AstraZeneca

$1,038

32. Gardasil

HPV vaccine, rDNA

Merck

$998

33. Varivax

Varicella Vaccine

Merck

$929

34. Norditropin

Somatropin, rDNA

Novo Nordisk

$887

35. Genotropin

Somatropin, rDNA

Pfizer

$885

36. Forteo

Parathyroid hormone, rDNA

Lilly

$830

37. PEG-Intron

Interferon alfa-2b, rDNA

Merck

$737

38. Orencia

CTLA4-Ig, rDNA

Bristol-Myers Squibb

$733

39. Cerezyme

Glucocerebrosidase, rDNA

Genzyme/Sanofi

$720

40. Xolair

mmunoglobulin E Mab, rDNA

Roche & Novartis $692

41. Gonal-f

FSH rDNA

Merck Serono

$674

42. BeneFIX

Factor IX, rDNA

Pfizer

$643

43. Menactra

Meningococcal Vaccine

Sanofi

$626

44. Pulmozyme

DNase, rDNA

Roche

$554

45. Soliris

Complement C5 Mab, rDNA

Alexion $541

46. Follistim AQ

FSH rDNA

Merck Serono

$528

47. Nutropin

Somatropin, rDNA

Roche

$504

48. TNKase

tPA, TNK-, rDNA

Roche

$496

49. Helixate FS

Factor VIII, rDNA

Bayer

$480

50. Actemra

IL-6 receptor mAb, rDNA

Roche

$428


contractpharma.com

dimanche 3 juillet 2011

Mười công ty thuốc generic hàng đầu thế giới

Mười công ty đầu tiên trong lĩnh vực thuốc generic tại thị trường Mỹ trong năm 2010, theo số liệu doanh thu năm 2009 được cung cấp bởi IMS health

Xếp hạng 2010

Tập đoàn

Quốc gia

doanh thu 2009 (triệu USD)

Phần trăm thị phần

1

Teva

Israël

$6.956

21.8%

2

Mylan Labs

Mỹ

$3.620

11.3%

3

Sandoz (Novartis)

Thụy Sĩ

$2.494

7.8%

4

Watson Pharma

Mỹ

$2.000

6.3%

5

Greenstone (Pfizer)

Mỹ

$1.721

5.4%

6

Par Pharma

Mỹ

$1.319

4.1%

7

Hospira

Mỹ

$1,061

3.3%

8

Apotex

Canada

$879

2.8%

9

Mallinckrodt (Covidien)

États-Unis

$860

2.7%

10

Dr. Reddy's

Ấn Độ

$834

2.6%


Source : FiercePharma

lundi 16 mai 2011

Các thuốc có doanh số cao nhất tại Mỹ



Vào tháng 4/2011, IMS Health đã công bố những số liệu đầu tiên trong năm liên quan đến thị trường dược phẩm Mỹ.

Dưới đây là bảng danh sách các thuốc đang dẫn đầu doanh số tại Mỹ qua các năm từ 2006 đến 2010

1- Lipitor (Pfizer), 2- Nexium (AstraZeneca), 3- Plavix (Sanofi-aventis, Bristol-Myers Squibb BMS), 4- Advair Diskus (GSK GlaxoSmithKline), 5- Abilify (Bristol-Myers Squibb BMS, Otsuka America Pharmaceutical), 6- Seroquel (AstraZeneca), 7- Singulair (Merck & Co.), 8- Crestor (AstraZeneca), 9- Actos ( Takeda), 10- Epogen (Amgen), 11- Remicade (Centocor Ortho Biotech, Johnson & Johnson JnJ), 12- Enbrel (Amgen, Pfizer), 13- Cymbalta (Eli Lilly), 14- Avastin (Genentech, Roche), 15- Oxycontin (Purdue Pharma), 16- Neulasta (Amgen), 17- Zyprexa (Eli Lilly), 18- Humira (Abbott), 19- Lexapro (Forest Laboratories), 20- Rituxan (Biogen Idec; Genentech, Roche)

lundi 29 novembre 2010

Bảng xếp hạng các tập đoàn dược phẩm đầu tư vào R&D

Xếp hạng

R&D 2009

Tập đoàn

Quốc gia

Số tiền đầu tư vào RD

(triệu euros)

% thay đổi trong

2009

so với

2008

% R&D

So với doanh thu 2009

1

Roche

Thụy Sĩ

6,401.86

9,1

19,4

2

Pfizer

Mỹ

5,404.13

-2,4

15,5

3

Novartis

Thụy Sĩ

5,156.02

2,5

16,7

4

Johnson & Johnson

Mỹ

4,868.87

-7,8

11,3

5

Sanofi-Aventis

Pháp

4,569.00

0,2

15,3

6

GlaxoSmithKline

Anh

4,084.44

9,5

12,8

7

Merck & Co.

Mỹ

4,073.66

21,6

21,3

8

Takeda Pharmaceutical

Nhật

3,391.78

64,3

29,5

9

AstraZeneca

Anh

3,090.26

-12

13,5

10

Eli Lilly

Mỹ

3,015.34

12,6

19,8

11

BristolMyers

Squibb

Mỹ

2,541.77

1,7

16,9

12

Boehringer Ingelheim

Đức

2,215.00

5

17,4

13

Amgen

Mỹ

1,996.06

-5,5

19,6

14

Abbott Laboratories

Mỹ

1,912.24

2

8,9

15

Bayer Healthcare

Đức

1,700.00

*

*

16

Daiichi Sankyo

Nhật

1,381.57

12,9

21,9

17

Merck KGaA

Đức

1,344.60

8,9

17,4

18

Astellas Pharma

Nhật

1,190.81

18,3

16,5

19

Eisai

Nhật

1,168.71

13,1

20

20

Novo Nordisk

Đan Mạch

1,001.06

0,6

14,6



*Trong 2009 , Bayer HealthCare đã chi 1,7 tỷ euros cho việc nghiên cứu, chiếm 66% tổng chi tiêu của tập đoàn Bayer. (Nguồn : Bayer)

Bảng số liệu được phát hành cho thấy sự đầu tư vào R&D của các công ty trong tất cả các ngành nghề tại châu Âu đã giảm 2,6% trong năm 2009 so với năm 2008. Tuy nhiên mức giảm này thấp hơn nhiều so với mức giảm về doanh thu và lợi nhuận của các tập đoàn, tương ứng với 10,1 và 21%. Tại Mỹ, mức sụt giảm các khoản đầu tư R&D nhiều hơn gấp đôi, khoảng 5,1% trong khi mức giảm này trên quy mô toàn cầu là 1,9%. Các công ty Nhật vẫn giữ được mức đầu tư cho R&D của mình. Những nơi khác tại châu Á (Hồng Kông, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Hàn và Đài Loan, các doanh nghiệp địa phương đã duy trì được mức tăng trưởng cao đầu tư vào R&D mà họ đã đạt được ở các năm trước. Trong năm thứ 2 liên tiếp, nhà sản xuất xe hơi Nhật Toyota là công ty đầu tư nhiều nhất cho lĩnh vực nghiên cứu phát triển, với 6,8 tỷ euros. Có 3 công ty của Liên minh châu Âu EU nằm trong top 10, gồm Volkswagen dẫn đầu với 5,8 tỷ euros, Nokia và Sanofi. Bảng số liệu được thu thập từ 1400 công ty hàng đầu trên thế giới.

Nguồn : communiqué de presse Commission Européenne du 26 octobre 2010 « R&D et crise économique: les grandes entreprises de l'UE réduisent moins l'investissement que les américaines, mais l'Europe reste à la traîne » - EU Industrial R&D Investment Scoreboard]

lundi 28 juin 2010

Khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu : GSK vẫn đóng vai trò dẫn đầu



Đối với những tập đoàn, khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu tại các nước nghèo đang là một đòi hỏi bức thiết để họ có thể duy trì được danh tiếng đang dần mai một của mình trong mắt cộng đồng. Tuy nhiên, việc cung cấp thuốc thiết yếu không chỉ toàn mang lại những rủi ro, nó còn tạo ra cơ hội cho công ty. Trước tình hình tăng trưởng lợi nhuận một cách chậm chạp ở các thị trường đã trưởng thành, nhóm bệnh nhân ở dưới đáy của tháp nhu cầu đang bắt đầu được chú ý đến, họ đại diện cho một thị trường chăm sóc sức khỏe khổng lồ còn chưa đưa khai thác và hứa hẹn một sự tăng trưởng đầy tiềm năng.

Những tập đoàn dược phẩm châu Âu vẫn được đánh giá cao hơn các đối thủ Hoa Kỳ về lĩnh vực này, mặc dù cách biệt không còn lớn như trước, theo một phân tích vừa được xuất bản trong thời gian gần đây.
Nghiên cứu xếp hạng 20 công ty dựa trên các tiêu chí quan trọng bao gồm giá cả, bản quyền sáng chế và tài sản trí tuệ, nâng cao năng lực, tiếp thị, chiến thuật lobbying, cạnh tranh và hoạt động từ thiện. (các bạn có thể vào trang chủ của tổ chức để tìm hiểu kỹ hơn về tiêu chuẩn đánh giá). Báo cáo này là ý tưởng của Wim Leereveld, người sáng lập và cũng là chủ tịch của tổ chức phi chính phủ Access to Medicine Foundation, hợp tác với công ty nghiên cứu rủi ro Risk Metrics.



Tập đoàn dược phẩm Anh GlaxoSmithKline được xếp hạng đầu trong danh sách này, bởi những nỗ lực của họ trong việc tạo điều kiện cho thuốc của tập đoàn có thể được sản xuất, phân phối đến tay những bệnh nhân nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển. Qua đó khẳng định sự hiện diện khá mạnh mẽ của tập đoàn tại các thị trường mới nổi này.

Điều gì là khác biệt giữa GSK và các đối thủ của họ ?

« GSK đã tích hợp một cách hoàn hảo hoạt động cung ứng thuốc thiết yếu vào mô hình kinh doanh của mình, vì vậy đây không đơn thuần chỉ là hoạt động từ thiện vì lòng hảo tâm. Nó thực sự là một phần trong cách họ làm kinh doanh và cũng là chứng minh cho hiểu biết của họ về tầm quan trọng của những thị trường mới nổi ", ông Afshin Mehrpouya của tổ chức Risk Metrics nói. « Vì thế, họ đã cam kết mạnh mẽ đầu tư nghiên cứu thuốc điều trị những căn bệnh bị lãng quên. Tại các thị trường mới nổi, họ vừa kinh doanh thuốc vừa giúp đỡ phát triển cơ sở hạ tầng ».

Những công ty nằm giữa hay dưới bản danh sách này có xu hướng xem việc tiếp cận thuốc thiết yếu như một chiến thuật tạm thời hơn là kết hợp nó vào trong hoạt động kinh doanh, Mehrpouya giải thích.

Sự chuyển biến lớn nhất thuộc về Pfzer, xếp hạng 17 năm 2008, nay đã vươn lên vị trí thứ 9.
« Pfizer ngày nay được xem như một nhân vật quan trọng mới », Leereveld nói, « công ty đã thay đổi đáng kể, ê kíp cũ đã ra đi và đội ngũ quản lý mới bắt đầu nhìn nhận việc tiếp cận thuốc thiết yếu như một vấn đề rất quan trọng cần thực hiện tại các nước thuộc thế giới thứ 3, và họ đã làm hết sức mình để thu thập các dữ liệu của mình.

Các công ty châu Âu, nói chung, đã có một lịch sử khá lâu đời hoạt động tại các thị trường đang phát triển, tạo cho họ ưu thế hơn so với những đồng nghiệp Nhật Bản và Hoa Kỳ, những công ty trước đến nay chủ yếu chỉ dựa vào khai thác thị trường địa phương.
"Do sự bão hòa của thị trường phương Tây, sự suy giảm của các loại thuốc"bom tấn", và sự tăng trưởng nhanh chóng của các thị trường mới nổi, những công ty như Pfizer đang di chuyển nhanh hơn để có thể bắt kịp với các đối tác châu Âu của họ", Mehrpouya nói.


pharmexec.com

lundi 14 juin 2010

Xếp hạng 50 công ty hàng đầu thế giới về lĩnh vực thuốc kê đơn

Báo cáo Pharm Exec 50 xếp hạng các tập đoàn lớn nhất dựa vào doanh số bán thuốc kê đơn trên toàn cầu. Chủ đề lớn nhất trong danh sách năm nay là sự phát triển tiếp tục của lĩnh vực sáp nhập M&As : nhiều công ty đã biến mất khỏi bảng xếp hạng vì lý do bị thâu tóm trong suốt năm 2009. Đó không chỉ là những công ty nhỏ: Wyeth, hạng 10 năm 2008, giờ đã trở thành một phần của Pfizer, và cung cấp cho nhà vô địch lâu năm của chúng ta một sự tiếp cận vững chắc vào thị trường sản phẩm sinh học, vaccine cũng như sự trở về các loại dược phẩm OTC. Schering-Plough (hạng 15 năm ngoái), đã sáp nhập với Merck, tạo ra một công ty có thể sẽ đứng hạng 4 trong năm tới, với doanh thu Rx vào khoảng 40 tỷ USD. Và một số thương vụ khác như Genetech (hạng 19) được mua lại bởi Roche, hay Solvay (32) sáp nhập vào Abbott.



Ngoài ra, báo cáo trình bày sự thay đổi mạnh mẽ trên thị trường dược phẩm toàn cầu trong vài năm gần đây: doanh số tại các khu vực mới nổi như châu Á Thái Bình Dương, Mỹ Latinh, đang phát triển nhanh hơn nhiều so với những thị trường truyền thống là châu Âu và Mỹ. Theo IMS Health, sau 5 năm nữa, các khu vực “pharmerging” này sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận không thua kém gì các thị trường đã được công nhận. Mặc dù có sự dao động đáng kể, các công ty dược đã đầu tư vào các thị trường mới nổi trong nhiều năm gần đây, không chỉ vào các nước “BRIC” (Brazil, Russia, India, China), mà còn mở rộng thêm nhiều nước như A rập Saudi, Việt Nam, Chile, Venezuela, Malaysia, Thái Lan và Mexico. Việc kinh doanh tại các nước này gặp nhiều thử thách, bao gồm đăng kí thuốc, xây dựng hệ thống phân phối, bảo vệ tác quyền, và ấn định giá. Nhưng với chính sách ngày càng thắt chặt hơn giá thuốc ở các nước Âu Mỹ hay Nhật Bản, các tập đoàn dược phẩm cần phải chuyển hướng và nắm bắt cơ hội, bất chấp nhiều khó khăn như vậy xuất hiện trong môi trường mới.


Một điểm nổi bật khác là biểu đồ xếp hạng về doanh số trong các lĩnh vực điều trị chính, dẫn đầu là nhóm ung thư, và một sự so sánh về tỷ lệ tăng trưởng của các nhóm bệnh này đối với năm 2008.


Điểm nhấn cuối cùng là bảng tóm tắt một số hoạt động chính mà các công ty trong top 10 tập đoàn hàng đầu đã thực hiện trong năm vừa qua. Các công ty được đề cập là Pfizer, Sanofi-Aventis, Novartis, GlaxoSmithKline, Roche, AstraZeneca, Merck, Johnson & Johnson, Eli Lilly và Bristol-Myers Squibb

xem thêm thông tin tại đây

pharmexec.findpharma.com

jeudi 27 mai 2010

Thuốc bán chạy nhất trong năm 2014 sẽ là …?

Câu trả lời chính là … Avastin của Roche, một loại thuốc khá nổi tiếng dùng để chữa trị nhiều căn bệnh ung thư. Tất cả mọi người đều rất tò mò muốn biết ngôi sao của tương lai sẽ là ai, và Reuters đã công bố bảng xếp hạng theo dự đoán của mình. Điều thú vị trong danh sách này là có vẻ như sẽ chỉ có duy nhất một loại thuốc viên được nằm trong top 10 dược phẩm bán chạy nhất vào năm 2014. Nói cách khác, các loại thuốc tiêm sẽ hoàn toàn chiếm lĩnh thị trường, chủ yếu nằm trong lĩnh vực trị ung thư và viêm khớp. Còn trong năm nay, ngôi quán quân được dự đoán vẫn là Lipitor và Plavix, 2 thuốc ‘bom tấn’ mà sẽ lần lượt hết hạn bảo hộ độc quyền trong năm 2011 và 2012.
Nếu cho rằng bảng dự đoán này là tương đối chính xác, nó sẽ nói lên điều gì ? Không có nhiều thuốc mới xuất hiện, liệu các tập đoàn có tiếp tục đổ thêm tiền vào các phòng thí nghiệm để nghiên cứu ? Liệu thuốc uống có phải đã lỗi thời, và điều này sẽ ảnh hưởng đến chi phí mà bệnh nhân phải chịu như thế nào ?

Dự đoán top 10 thuốc brand name trong năm 2014 :
1. Avastin (cancer) Roche $8.9 bln
2. Humira (arthritis) Abbott (ABT.N) $8.5 bln
3. Enbrel (arthritis) Pfizer(PFE.N)/Amgen(AMGN.O) $8.0 bln
4. Crestor (cholesterol) AstraZeneca (AZN.L) $7.7 bln
5. Remicade (arthritis) Merck(MRK.N)/J&J(JNJ.N) $7.6 bln
6. Rituxan (cancer) Roche $7.4 bln
7. Lantus (diabetes) Sanofi-Aventis (SASY.PA) $7.1 bln
8. Advair (asthma/COPD) GlaxoSmithKline (GSK.L) $6.8 bln
9. Herceptin (cancer) Roche $6.4 bln
10.NovoLog (diabetes) Novo Nordisk (NOVOb.CO) $5.7 bln

Dự đoán trong năm 2010 :
1. Lipitor (cholesterol) Pfizer $11.7 bln
2. Plavix (anticlotting) Sanofi/Bristol (BMY.N) $9.6 bln
3. Advair (asthma/COPD) GlaxoSmithKline $9.0 bln
4. Remicade (arthritis) Merck/J&J $7.4 bln
5. Enbrel (arthritis) Pfizer/Amgen $7.1 bln
6. Humira (arthritis) Abbott $6.8 bln
7. Avastin (cancer) Roche $6.7 bln
8. Rituxan (cancer) Roche $6.1 bln
9. Diovan (hypertension) Novartis $6.0 bln
10.Crestor (cholesterol) AstraZeneca $5.8 bln
pharmalot.com

samedi 8 mai 2010

Xếp hạng 15 tập đoàn dược phẩm lớn nhất trên thế giới (Dựa theo doanh số năm 2009, IMS Health)

Vào tháng 4 năm 2010, tổ chức IMS đã công bố một số dữ liệu đầu tiên về thị trường dược phẩm thế giới.
Và dưới đây là danh sách xếp hạng của 15 công ty hàng đầu trong thị trường có tổng doanh thu hơn 750 tỷ USD này, dựa trên các số liệu của năm 2009. Ngoài ra, với một sự nhắc lại các số liệu của những năm trước (2008, 2007, 2006, 2005), chúng ta có thể thấy vị trí giữa các công ty không có nhiều sự thay đổi. một điểm lưu ý là có vẻ như năm 2009 không phải là năm thuận lợi của việc kinh doanh thuốc, khi chứng kiến sự sụt giảm doanh thu ở nhiều công ty so với 2008


(1- Pfizer, 2- Merck & Co, 3- Novartis , 4- Sanofi-Aventis , 5- GlaxoSmithKline (GSK), 6- AstraZeneca, 7- Roche, 8- Johnson and Johnson (J & J), 9- Lilly , 10- Abbott , 11- Teva , 12- Bayer, 13- Boehringer Ingelheim , 14- Amgen, 15- Takeda )

Industrie Pharmaceutique Blog

mercredi 5 mai 2010

Trong không gian số, thương hiệu của bạn là thiên tài hay kẻ ngốc ?

Xây dựng thương hiệu là điều mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải nghĩ tới nếu muốn thành công, đặc biệt là khả năng xây dựng thương hiệu trong thế giới Internet.

Khi nói đến khái niệm digital IQ, nhiều thương hiệu đã tỏ ra mình là thiên tài trong khi một số khác chỉ là những kẻ nhu nhược kém thông minh, dựa vào “chỉ số L2 Digital IQ” dành cho các nhãn hiệu dược phẩm, thước đo đầu tiên về thể loại này để đánh giá năng lực marketing trong thế giới số của 51 thương hiệu thuốc dàn trải trên 8 lĩnh vực điều trị.

Chỉ số trên được sáng tạo bởi nhóm chuyên gia cố vấn L2 hợp tác với hãng thông tấn PHD Network. Họ đánh giá sự hiện diện của các thương hiệu dược phẩm trong không gian số dựa trên 4 tiêu chí: Platform (40%, bao gồm sự hiệu quả của website và khả năng truyền tải thông tin); thông điệp Off-Platform (25%, bao gồm những nỗ lực marketing kĩ thuật số như quảng cáo trực tuyến và quảng cáo di động – mobile advertising); SEO (20%, dựa vào khả năng được tìm thấy trong trang đầu của các công cụ tìm kiếm); và Truyền thông xã hội (15%, dựa vào sự hiện diện của thương hiệu trên các nền web 2.0 phổ biến trên Internet). Mỗi nhãn hàng sẽ được chấm điểm dựa trên hơn một trăm tiêu chí về chất lượng cũng như về số lượng, sau đó được xếp hạng vào các cấp độ Thiên tài (Genius), Thông minh (Gifted), Trung bình (Average), Bị thử thách (Challenged) và Nhu nhược (Feeble). (Bản báo cáo chi tiết tại đây)