Affichage des articles dont le libellé est thuốc giả. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est thuốc giả. Afficher tous les articles

samedi 14 mai 2011

Một chiến dịch truyền thông về thuốc giả: New York, Paris và ... Việt Nam

Fondation Chirac, một tổ chức châu Âu do cựu tổng thống Pháp thành lập để đấu tranh chống lại nạn thuốc giả, vừa thực hiện một chiến dịch truyền thông về vấn đề này, đặc biệt đề cập đến các loại thuốc được bày bán tràn lan trên internet. Trong đoạn video clip được đăng lên Youtube, thông điệp truyền tải khá ngắn gọn nhưng mang lại nhiều cảm xúc về hậu quả của việc mua thuốc kém chất lượng tại các trang web khả nghi. Một điểm đáng chú ý ở đây là ba thành phố được đề cập trong clip là New York, Paris và … thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó thật đáng suy ngẫm.
Clip được thực hiện với sự hợp tác với Tổ chức thế giới về sở hữu trí tuệ, bộ ngoại giao Pháp và cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ.



Lời nhắn nhủ của đoạn video là "Thuốc giả có thể gây chết người - bạn hãy luôn mua thuốc tại các hiệu thuốc đã được công nhận đủ tiêu chuẩn (GPP)"

các bạn quan tâm đến chủ đề này có thể xem thêm 1 clip của người Đức tại đây, với nội dung khá hóm hỉnh:

Counterfeit drugs on the Internet through the eyes of German pharmacists

lundi 3 mai 2010

Counterfeit drugs on the Internet through the eyes of German pharmacists

The French site SuperGelule is often a source of good tips for pharmacist. Example? The site just gave me a nice shot of German advertising, along the same line as Pfizer against counterfeit drugs. This case is about the German pharmacy chain ADBA which treats with humor the subject about the counterfeiting of medicines on the Internet. The words are in English, the text in German, but this pharma video does not need any subtitle.




www.supergelule.fr

mardi 27 avril 2010

chống thuốc giả (2) : chạy đua với thế giới ngầm


Vì lí do các lô hàng giả được tuồn vào thị trường với hình dáng ngày càng tinh vi khó phát hiện, một số tập đoàn dược phẩm đang đầu tư nghiên cứu khả năng thêm vài “dấu ấn hóa học” chuyên biệt vào thành phần lớp vỏ ngoài của viên thuốc, nhằm giúp cho việc nhận dạng được tiến hành dễ dàng hơn. Với ý tưởng này, FDA đã sơ bộ bày tỏ tín hiệu tích cực giúp cho phép tiến hành thử nghiệm trước khi có thể áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, các nhà quản lý của châu Âu lại tỏ ra không mấy ủng hộ, họ phản đối quan niệm “cho bất cứ thứ gì vào một viên thuốc mà nó không thực sự cần thiết”.

Ngoài việc phát triển ý tưởng bổ sung vài đặc điểm an ninh cho viên thuốc, các tập đoàn trên thế giới thường ưu tiên hơn trong việc thêm các chi tiết xác thực lên nhãn, vỏ hộp bao bì. Tuy nhiên, mọi dấu hiệu an ninh đều chỉ tồn tại được khoảng 18 tháng trước khi những tay làm giả có thể bắt chước được chúng. Quả thật, tem ảnh 3 chiều hologram là một trong những biện pháp đảm bảo đầu tiên được các tập đoàn áp dụng, nhưng hiện nay bọn sản xuất bất hợp pháp đã có khả năng kiếm được chúng thông qua một số công ty nổi tiếng chuyên làm loại tem này, các công ty đó thực sự không biết được rằng “khách hàng” của họ chính là những băng đảng sản xuất tân dược lậu, Shore cho biết. Thậm chí khả năng sử dụng tem chống hàng giả của bọn buôn lậu phổ biến đến nỗi “một công ty dược báo cáo rằng họ đã phát hiện nhiều lô thuốc giả có dán tem ảnh 3 chiều, trong khi thật sự các sản phẩm của họ chưa bao giờ được áp dụng loại tem đó !”

Một đặc tính bảo mật khác được xem xét đó là logo đổi màu (color-shift logo – logo có thể thay đổi màu sắc khi xoay hướng của hộp thuốc ngoài ánh sáng). Shore cho biết, chỉ có 3 công ty trên thế giới có khả năng sản xuất được loại mực in logo đặc biệt này. “Vậy mà sau đó, chúng tôi tìm thấy tại Hong Kong đầu năm vừa rồi một lô hàng được làm tinh vi tới mức gần như không thể xác định được chúng là thật hay giả”. Pfizer sau đó đã ngưng áp dụng kỹ thuật trên, Shore thông báo, nhưng ông ta không cho biết các biện pháp an ninh thay thế cụ thể ra sao, ông chỉ nói rằng Pfizer đang sở hữu một danh sách tất cả các công nghệ mới nhất, đủ để thay thế bất cứ điều gì mà bọn làm giả có thể bắt chước được.

Để ngăn chặn thuốc giả, các chuyên gia cũng đang thử nghiệm kỹ thuật in mã vạch hoặc dấu ấn RFID trên hộp bao bì, nhằm giúp các dược sĩ có thể kiểm tra nguồn gốc xuất xứ của dược phẩm 1 cách dễ dàng trước khi cấp phát cho bệnh nhân. Với phương pháp này, nếu một hộp thuốc đã được bán ở nơi nào đấy, sau đó lại được phát hiện bán ra 1 lần nữa tại nơi khác, thì có nhiều khả năng bọn làm lậu đã tái sử dụng các dấu hiệu bảo mật cho các lô hàng của chúng. Tuy nhiên, tất cả biện pháp như tem ảnh 3 chiều, logo đổi màu, mã vạch hoặc RFID … có thể áp dụng được đối với những quốc gia phát triển, ngược lại tại Đông Nam Á, Châu Phi hay Mỹ Latinh, việc triển khai chúng gặp rất nhiều khó khăn, bởi vì tất cả kỹ thuật trên đòi hỏi một cơ sở hạ tầng phải khá hiện đại và phát triển.


Vượt qua nhiều thách thức trong việc phát hiện ra những lô hàng giả, việc truy lùng bọn sản xuất chúng thậm chí còn khó khăn hơn. Các điều tra viên ngày càng phải áp dụng nhiều phương pháp khoa học pháp chứng để lần theo dấu vết thủ phạm. Một trong những hướng tìm kiếm đó là nghiên cứu kỹ cấu trúc đồng vị hoá học của vài thành phần tá dược trong thuốc. Những đồng vị này có thể là đầu mối về nơi mà bọn sản xuất làm ra dược phẩm giả. Ví dụ, khi phân tích đồng vị canxit của một tá dược trong thành phần 1 loại thuốc sốt rét giả, viện Khoa học GNS của Mildenhall có thể chỉ ra rằng những viên thuốc này nhiều khả năng đã được tổng hợp tại vùng biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Đặc biệt, một tỷ lệ khác thường giữa canxi, hydro và oxi đã giúp các nhà phân tích nhận ra canxit này không được lấy từ đại dương, mà là từ một vùng mỏ thuỷ-nhiệt. Bởi vì trên thế giới chỉ có 1 vùng mỏ thuỷ-nhiệt duy nhất, tại khu vực phía nam Trung Quốc, sự phát hiện đó đã giúp khoanh vùng được nơi mà những lô hàng giả đã được thực hiện.


Dữ liệu về các muối canxi đã cung cấp những bằng chứng giúp Mildenhall xác định được khu vực. Ngoài ra, ông cũng đang xem xét kĩ một vài loại phấn hoa bám dính vào viên thuốc. “Phấn hoa trong thực tế có thể tìm thấy trong mọi viên thuốc, dù là thật hay giả”, ông nói. Nhưng loại phấn hoa tìm thấy trong những viên artesunate giả này cũng có thể giúp khẳng định thêm giả thuyết rằng chúng được sản xuất tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”.
hình : Phấn hoa được tìm thấy trong thuốc (Soi dưới kính hiển vi quang học)


Những thông tin từ thành phần canxit và phấn hoa, kết hợp với hỗ trợ từ các phòng thí nghiệm của Fernandez, Newton … đã giúp cho lực lượng IMPACT có thể tiến hành bắt giữ Xu Qiang, một “trùm” buôn bán thuốc giả trong vùng địa bàn nam Trung Hoa. Thông tin về chiến dịch được đang tải trong một bài báo hiếm hoi về chủ đề này (PLOS, DOI: 10.1371/journal.pmed.0050032). Ngoài ra, chi tiết về các trường hợp đấu tranh chống tội phạm sản xuất tân dược bất hợp pháp khác vẫn còn nằm trong bí mật.

Và dù rằng “chúng ta đang chứng kiến một vài thành công nhất định, cuộc chiến chống lại thuốc giả vẫn còn con đường dài phía trước”, Thomson chia sẻ. “Sự thực là, những kẻ sản xuất phi pháp có thể làm ra thuốc giả một cách hoàn hảo và sau đó chúng thâm nhập vào hệ thống phân phối của chúng ta. Liệu chúng ta có thể hoàn toàn ngăn chặn nguy cơ này? Tôi cũng khá nghi ngờ về điều đó, điều duy nhất chúng ta có thể làm đó là nỗ lực hết mình để bảo vệ cho mạng lưới cung cấp hợp pháp khỏi bàn tay của bọn làm giả.


theo pubs.acs.org

mardi 20 avril 2010

Chống thuốc giả : Cần sự hợp tác toàn cầu



Trong khi mạng lưới thuốc giả đang tìm cách len lỏi vào châu Âu và Mỹ, chúng lại có thể thâm nhập một cách dễ dàng hơn vào các thị trường mới nổi, những nơi mà nhà cầm quyền có rất ít công cụ để chống lại vấn nạn này.

Một trong số không nhiều các chương trình đang được triển khai nhằm mục đích thống kê chính xác lượng thuốc giả, ít nhất đối với các nước đang phát triển, là kế hoạch “ACT consortium” – được tài trợ bởi Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates. Chương trình này đang có kế hoạch theo dấu các lô thuốc sốt rét giả trên toàn Lục địa đen.
Trong một nỗ lực quốc tế khác, lực lượng Interpol đã phối hợp với WHO để thành lập cơ quan IMPACT (International Medical Products Anti-Counterfeiting Taskforce). Lực lượng chuyên trách này gồm một đội ngũ chuyên viên có khả năng liên kết các dữ liệu thu thập từ những tập đoàn dược phẩm, cảnh sát địa phương và các cơ quan quản lý ở khắp nơi trên thế giới. Bởi vì đường dây làm tân dược lậu bao gồm nhiều mắt xích tồn tại trên nhiều lục địa, việc triệt phá dây chuyền này cần sự tham gia tích cực của tất cả các bên liên quan, họ cần phải « sẵn sàng mọi lúc và có thể phối hợp hành động trong cùng một thời điểm ». Vào mùa thu vừa qua, ê kíp này đã hoàn thành một chiến dịch có tên gọi Mamba II với mục đích khám xét bất ngờ 270 cơ sở tại Kenya, Tanzania và Uganda. Họ cũng đã thành công trong việc triệt phá một số tổ chức sản xuất bất hợp pháp tại Đông Nam Á.

Đi kèm với nỗ lực tăng cường hệ thống luật pháp quốc tế, từng quốc gia và địa phương, các công ty dược phẩm còn thuê các cựu nhân viên cảnh sát, cựu thanh tra y tế để phát hiện các trường hợp sản xuất bất hợp pháp. Ví dụ như Pfizer đã mời các cựu nhân viên của Scotland Yard và FBI, thêm cả một tướng về hưu của Thổ Nhĩ Kì, về làm việc cho họ nhằm điều tra thuốc giả. Shore cho biết : « Khi chúng tôi phát hiện một trường hợp, chúng tôi sẽ cung cấp ngay các thông tin cho giới chức địa phương để họ có thể tiếp tục theo dõi và xử lý chúng ».

Để bắt được một đường dây tân dược lậu, trước tiên là phải tìm hiểu và phân biệt đâu là hàng giả, đâu là hàng thật. Tại Bắc Mỹ và Châu Âu, hầu hết các phòng kiểm nghiệm tại các cơ quan quản lý, kiểm soát biên giới, viện nghiên cứu và tập đoàn dược phẩm đều được trang bị nhiều công cụ phân tích hiện đại để xác minh các lô thuốc đáng ngờ như chuẩn độ hóa học, sắc ký lớp mỏng, chiếu tia X huỳnh quang, sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và sắc ký khối phổ MS… Ngược lại, tình hình là hoàn toàn khác ở những khu vực nghèo trên thế giới. Ví du như trên toàn châu Phi, chỉ có duy nhất 2 phòng thí nghiệm, một đặt tại Kenya và một tại Nam Phi là được trang bị tương đối tốt theo tiêu chuẩn của WHO. Ngoài ra, họ phải nhờ vào những viện nghiên cứu như nơi làm việc của Fernandez, để đóng góp những công cụ khoa học hỗ trợ công tác điều tra.
Michael Green, một nhà hóa học của trung tâm y tế dự phòng Hoa Kỳ, thường hay đến châu Phi để hỗ trợ huấn luyện và trực tiếp kiểm tra những viên thuốc chống sốt rét giả. Trong các chuyến đi của mình, ông phải tự mang theo những hóa chất cần thiết, bởi vì « bạn không thể chắc rằng sẽ tìm thấy đầy đủ dung dịch bạn cần cho các thí nghiệm của mình », Green chia sẻ. Trong một chuyến công tác, Green cũng đã xây dựng cho các nhân viên địa phương một phương pháp kiểm tra dựa vào màu sắc đơn giản để có thể nhận biết nhanh sự hiện diện của hoạt chất trong 2 loại thuốc Artesunate (chống sốt rét) và thuốc chống cúm Tamiflu.

Đối với thuốc viên nén, thực hiện những phương pháp kiểm tra cơ bản cũng đã có thể nhận ra được hàng giả. Ví dụ, những viên thuốc chất lượng được sản xuất từ các nhà máy đạt chuẩn Thực hành Tốt Sản xuất thuốc (GMP-WHO) sẽ có biên độ dao động về khối lượng không quá 1 %, trong khi đối với thuốc giả thì khoảng cách này là rất lớn, có thể lên đến 20-50%. Trong thuốc giả, Calcium carbonate thường được dùng thay cho tinh bột để làm tá dược. Vì vậy, nếu một viên thuốc đáng lẽ thành phần tá dược là tinh bột mà bỗng dưng sủi bọt xì xèo khi thả vào dấm (phản ứng thường dùng để nhận biết muối carbonate), thì bạn có thể chắc chắn rằng chúng đã bị làm giả ! Bọn sản xuất lậu cũng thường hay dùng bột talc, dolomite, anhydrite, và thạch cao để làm tá dược, theo lời của Dallas Midenhall, một chuyên gia khoa học pháp chứng của Trung tâm nghiên cứu trung ương New Zealand. Trong những thành phần ấy, có một số chất không tan trong nước, trong khi mọi viên thuốc thật đều phải tan hoàn toàn để giúp cho các dược chất được hấp thu hoàn toàn vào cơ thể. Vì vậy một viên thuốc mà không thể tan hết trong các phép thử độ hòa tan thì nó cũng đích thị là hàng ‘rởm’.
Các thiết bị cầm tay dựa trên phân tích quang phổ Raman và cận hồng ngoại là lý tưởng trong lĩnh vực này, vì chúng được thực hiện một cách « không xâm lấn »: các bao bì thậm chí không cần phải được mở ra mới có thể đánh giá được chất lượng thuốc. Thế nhưng, những công cụ này không phải là không có những thách thức. Việc xác định thành phần hóa chất trong các mẫu thử yêu cầu phải so sánh quang phổ thu được với quang phổ từ một cơ sở dữ liệu tham khảo. Tuy nhiên, quang phổ tham chiếu của cùng một loại thuốc từ các nhà sản xuất hợp pháp khác nhau vẫn có thể khác nhau. Người ta đang nghiên cứu theo đuổi một giải pháp khả thi là sử dụng các thuật toán tinh vi trong thống kê để so sánh quang phổ.

Nếu cần phải phân tích một cách toàn diện thành phần của một viên thuốc, thì phương pháp hữu hiệu nhất chính là phân tích phổ khối lượng (MS). Tuy nhiên, nếu dùng phương pháp này để thử nghiệm những lô sản phẩm lớn thì sẽ tốn khá nhiều thời gian vì các mẫu thử đòi hỏi một sự chuẩn bị khá lâu (chẳng hạn như phải nghiền mịn các viên thuốc trước khi đo phổ của chúng). Fernandez đã đi tiên phong cho việc sử dụng phương pháp khối phổ mới, cho phép nhận diện phổ ngay trên bề mặt của viên thuốc. Phương pháp này làm giảm thời gian phân tích dựa vào một nhân tố 60 – theo Fernandez cho hay.
...
(còn tiếp)

theo pubs.acs.org




lundi 19 avril 2010

Thuốc giả (2) : Vấn đề khó kiểm soát.


Sản xuất tân dược lậu là một việc làm siêu lợi nhuận. Thật vậy, người ta dự đoán sẽ có khoảng 75 tỷ USD rơi vào túi của những người tham gia đường dây này trong năm 2010, từ sản xuất cho đến phân phối. Nó thậm chí còn lời hơn cả việc tổng hợp ma tuý, trong khi khả năng bị phát hiện và truy quét là nhỏ hơn hẳn! (ví dụ như theo tổ chức Interpol, lợi nhuận phát sinh từ việc làm giả thuốc Viagra cao hơn gấp 10 lần so với việc phân phối “hàng trắng” trên đường phố).

Một khó khăn khác trong việc đấu tranh chống thuốc giả chính là vấn đề pháp lý, trong khi hầu hết các nước đều đã quy định cụ thể những luật lệ để diệt trừ tội phạm ma tuý, ngành công nghiệp thuốc giả bấy lâu nay vẫn được bao che bởi các vấn đề chính trị, gian lận hay các hoạt động rửa tiền tại nhiều quốc gia. Trong thực tế, “thay vì tiếp tục cho ra đời những viên ectasy hồng phiến, bọn làm lậu đã sửa đổi dây chuyền của chúng và bắt đầu cho sản xuất những viên Lipitor (thuốc giảm lipid hàng đầu của Pfizer)”, Kubic, đại diện cơ quan điều tra của Viện an ninh dược phẩm Hoa kỳ đã nhận xét như vậy. Thực tế, các nhà điều tra đang tìm thấy một sự giao nhau ngày càng tăng giữa việc sản xuất ma tuý và làm thuốc giả. Ví dụ, trong một cuộc bố ráp gần đây tại Istanbul, người ta đã bắt quả tang được 700.000 viên Viagra giả nằm ngay bên cạnh 51 kg heroin, theo Shore, người phát ngôn của Pfizer cho biết.

Lợi nhuận cao cộng với rủi ro tương đối thấp có thể là một động lực lớn, nhưng nhiều yếu tố khác cũng tạo điều kiện cho việc sao chép dược phẩm trái phép. Ngày nay, việc toàn cầu hoá sản xuất đã tạo ra nhiều hơn các khâu trung gian giữa nhà sản xuất và sự tiêu thụ thuốc của bệnh nhân. Giới làm giả đã đầu tư vào những "mắt xích phân mảnh" như vậy hòng xâm nhập thị trường thuốc với "hàng giả của chúng trông giống hệt bản gốc", theo lời ông James Thomson, chủ tịch của Liên minh châu Âu chống thuốc giả. Ngoài ra, sự xuất hiện và gia tăng của các hiệu thuốc trên Internet cũng đã cho phép các cá nhân vô danh bán thuốc trực tiếp đến người tiêu dùng; quả thật, WHO ước tính rằng một nửa của tất cả các loại thuốc bán trên Internet, là hàng giả.

Hiên nay vẫn chưa có một báo cáo chính xác nào về con số cụ thể lượng thuốc giả tồn tại trong toàn bộ hệ thống tiêu thụ thuốc trên thế giới. Ước đoán gần đúng nhất đó là : xấp xỉ 1% thuốc tại các quốc gia phát triển (gồm Mỹ và Châu Âu), là giả mạo, theo nhận định của Paul Newton, một bác sĩ tại Trung tâm Y học Nhiệt đới của Đại học Oxford ở Lào. Đối với những quốc gia đang phát triển, con số này dao động trong khoảng từ 10-50%. "Tuy nhiên, chúng tôi thực sự không có một cái nhìn toàn diện đầy đủ về phạm vi của vấn đề"

Thay vào đó, những con số thống kê từ một số sự kiện độc lập có thể cung cấp một cái nhìn rõ hơn, có thể không đầy đủ, về toàn cảnh bức tranh : Năm 2008, liên minh châu Âu đã triển khai một chiến dịch trong 2 tháng với tên gọi "Medi-fake" nhằm theo dõi và tịch thu hơn 34 triệu viên thuốc bất hợp pháp. Cùng năm đó, tập đoàn GlaxoSmithKline đã thông báo rằng họ đã phát hiện 289 trường hợp giả mạo thuốc của họ, với tổng giá trị bị làm nhái là khoảng 11 triệu USD. Con số trên có vẻ nhiều, nhưng thực tế đó là năm mà công ty phát hiện ra ít trường hợp làm giả dược phẩm nhất trong vòng 5 năm gần đây.

Các công ty khác cũng cùng chung cảnh ngộ, tập đoàn Pfizer thông báo rằng : trong 9 tháng đầu tiên của năm 2009, 8,5 triệu viên thuốc lậu giả Pfizer đã bị bắt giữ. Họ cung cấp thêm rằng đã phát hiện 14 mặt hàng của công ty bị làm nhái, sau đó chúng thâm nhập vào các chuỗi cung ứng hợp pháp của tập đoàn tại 36 quốc gia, bao gồm cả Mỹ, Canada, và Liên hiệp Anh. Marcy Forman, người đứng đầu đội thi hành luật pháp của cơ quan Di trú và Hải quan Hoa Kỳ phụ trách về hàng giả, cho biết : tuần nào họ cũng bắt được ít nhất một vụ nghi ngờ là thuốc giả tại biên giới. Khi chính quyền Mỹ bắt giữ tên Kevin Xu, một "trùm" vận chuyển tân dược lậu vào năm 2007, họ đã phát hiện rằng : người Mỹ đã mua thuốc của hắn với tổng trị giá là 232.568 USD thông qua các kênh trên Internet.
Hình : Một cơ sở sản xuất thuốc giả tại Trung Quốc

(còn tiếp)

theo pubs.acs.org


Chống thuốc giả : Cần sự hợp tác toàn cầu

chống thuốc giả (2) : chạy đua với thế giới ngầm

Thuốc giả : Hé lộ bức màn!


Khi phân tích thành phần của hàng trăm viên thuốc chống sốt rét giả, người ta không trông đợi sẽ tìm thấy sidenafil, hoạt chất chính trong “thần dược” Viagra. Họ cũng không mong sẽ phát hiện ra kháng sinh erythromycin, khung cơ bản mà ta có thể dùng để chế ra những viên ectasy mà dân chơi hay gọi là “thuốc lắc”; và metamizole, một loại thuốc giảm đau cực mạnh đã bị cấm ở Hoa Kỳ vì những tác dụng phụ nghiêm trọng trên hệ thống tuỷ xương của cơ thể. Vậy mà tất cả những hoá chất này và nhiều thứ khác đã được tìm thấy trong thành phần những viên thuốc chống sốt rét giả chuyên dùng cho trẻ em. “Điều đó thật kinh khủng”, một nhà phân tích nói, “những đứa trẻ cần thuốc nhưng chúng đã không nhận được thứ giúp chúng khỏi bệnh. Tệ hơn nữa, những viên thuốc giả này sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng của bệnh nhân”.


Trong thực tế, việc cho thêm các hoạt chất “ma” vào thuốc giả là một trong những xu hướng mới trong giới sản xuất tân dược lậu. Trước đây, thành phần chính của thuốc giả chủ yếu là những thứ bột vô hại vì bọn sản xuất chỉ quan tâm đến việc làm sao để hàng của chúng nhìn y như thật. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều chất hoá học được “bổ sung” vào thuốc giả, những tay sản xuất có thể thêm vào những chất giảm đau như acetaminophen để khiến bệnh nhân có cảm tưởng như bệnh tình của mình có vẻ đã tiến triển hơn, như trong trường hợp những viên Tamiflu giả bị phát hiện tại Anh năm 2007. Đôi lúc, chúng cũng thêm vào một lượng nhỏ hoạt chất giống với thuốc thật hòng qua mắt nhân viên kiểm tra trong những phòng kiểm nghiệm được trang bị thiếu thốn các thiết bị định lượng chính xác. Nguy hiểm hơn, một vài tay làm lậu còn thay thế những dược chất bằng các hoá chất độc hại nhưng có tính chất hoá học tương tự, ví dụ như chúng đã dùng ethylene glycon để thay cho glycerin. Việc thay thế chết người này chính là nguyên nhân của hàng trăm ca tử vong tại Nigeria, Panama và Bangladesh trong vài năm trở lại đây.


Bất chấp sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, các công ty dược phẩm và lực lượng Interpol hòng truy lùng và triệt phá các đường dây làm thuốc giả, vấn nạn này vẫn ngày càng phát triển tinh vi với những thủ đoạn mới : chúng có thể được đóng gói trong những bao bì có dán các dấu hiệu an ninh như : tem ảnh 3 chiều (hologram), điều này làm cho cuộc chiến chống thuốc giả trở nên rất quyết liệt và việc loại trừ chúng hoàn toàn là một điều còn rất xa vời...

(còn tiếp)

theo pubs.acs.org



Thuốc giả (2) : Vấn đề khó kiểm soát.

Chống thuốc giả : Cần sự hợp tác toàn cầu

chống thuốc giả (2) : chạy đua với thế giới ngầm